
- Phục Hi (c.2852) (vẽ tiên thiên bát quái)
- Văn Vương (1231- 1135) (vẽ Hậu thiên bát quái, viết Thoán từ)
- Chu Công (c.1100) (viết Hào từ)
- Khổng Tử (551- 479) viết Thập dực. Thập dực gồm: Thoán (thượng, hạ truyện), Tượng (Thượng, hạ truyện), Hệ từ (Thượng, hạ truyện), Văn ngôn truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện) Tìm mua: Kinh Dịch Với Đông Y TiKi Lazada Shopee
Dịch, theo từ nguyên, trên có chữ Nhật (chỉ sự thường hằng) dưới có chữ Nguyệt (chỉ sự biến thiên). Ý muốn nói: Dịch bao quát cả hai phương diện «biến, hằng» của vũ trụ.
Vì thế, Dịch có ba nghĩa:
- Bất biến.
- Biến thiên.
- Dễ.(Dễ, vì nếu ta biết mọi khía- cạnh biến- hằng của hoàn- cảnh, sự- vật, thì sự đời cũng như công chuyện đối phó sẽ trở nên dễ dàng).
Dịch là một bộ sách triết học, dùng:
- Tượng (ký hiệu - Symboles)
- Từ (Lời lẽ - Paroles)
- Số (Nombres)
Để mô tả căn do cũng như sự sinh thành, sự biến hóa của vũ trụ, quần sinh, và mọi giai đoạn danh hư, tiêu trưởng của vạn hữu cốt là để theo dõi được mọi sự biến tiên va cũng là để đoán định cho ra điều hay, điều dở (cát, hung), do đó sinh ra (Chiêm = đoán)
Dịch coi:
- Thái cực là nguồn gốc sinh ra vạn tượng, vạn hữu, vũ trụ, quần sinh.
- Âm Dương là hai động lực vừa tương thừa (complémentaires) vừa tương khắc (opposées ou contraires) tác động lẫn trên nhau, mà sinh ra mọi biến hóa.
- Tứ tượng, ngũ hành là những trạng thái biến hóa chính của một nguyên khí. Nguyên thể khi trải qua các giai đọan, từ khinh thanh đến trọng trọc và ngược lại (du subtil au grossier et vice- versa), theo những chu kỳ cố định, diễn biến theo luật định: Sinh (naissance), trưởng (croissance), liễm (retrait), tàng (latence, mort).
- Bát quái tượng trưng cho vạn tượng, vạn hữu (êtres, phénomènes)
- Sáu mươi tư quẻ tượng trưng cho mọi hoàn cảnh (situations) mà vạn tượng, vạn hữu trrong khi gặp gỡ, giao dịch với nhau đã gây nênDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyễn Văn Thọ":Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn ThưDịch Kinh Đại Toàn - Tập 1 Yếu ChỉDịch Kinh Đại Toàn - Tập 2 Thượng KinhDịch Kinh Đại Toàn - Tập 3 Hạ KinhHà Đồ Và Lạc ThưLão, Trang Giản LượcĐạo Đức Kinh Lão TửÂm Phù KinhPhật Học Chỉ NamTrung Dung Tân KhảoTìm Hiểu Kinh Hoa NghiêmKhổng Học Tinh HoaHướng Tinh ThầnĐường Vào Triết Học Và Đạo HọcChân Dung Khổng TửThiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất ThểTrời Chẳng Xa NgườiCon Đường Huyền Nhiệm Trung DungCon Đường Qui Nguyên Phản Bản Theo Nho GiáoĐịnh Luật Tiến HoáKhổng Giáo Vô Thần Hay Hữu ThầnKinh Dịch Với Đông YĐức Lão Tử Và Con Đường Huyền Nhiệm Tâm LinhLecomte Du Noüy Và Học Thuyết Viễn ĐíchLễ, Nghĩa, Liêm, SỉNê Hoàn - Nhâm - ĐốcQuan Niệm Tam Tài Với Con NgườiRa Đời, Vào ĐạoSẫm VioletThất Huyền Cầm
Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Kinh Dịch Với Đông Y PDF của tác giả Nguyễn Văn Thọ nếu chưa có điều kiện.
Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
https://thuviensach.vn
12/21/2015 nhantu.net/DichHoc/KinhDichDongY/KinhDichDongY.htm
http://nhantu.net/DichHoc/KinhDichDongY/KinhDichDongY.htm 1/21
KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y [1]
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
Dịch Kinh là một pho sách tối cổ của Trung Hoa đã được bốn vị đại thánh
sau đây soạn thảo:
- Phục Hi (c.2852) (vẽ tiên thiên bát quái)
- Văn Vương (1231- 1135) (vẽ Hậu thiên bát quái, viết Thoán từ)
- Chu Công (c.1100) (viết Hào từ)
- Khổng Tử (551- 479) viết Thập dực. Thập dực gồm: Thoán (thượng, hạ
truyện), Tượng (Thượng, hạ truyện), Hệ từ (Thượng, hạ truyện), Văn ngôn
truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện)
Dịch, theo từ nguyên, trên có chữ Nhật (chỉ sự thường hằng) dưới có chữ Nguyệt (chỉ sự biến thiên). Ý muốn nói: Dịch bao quát cả hai phương diện «biến, hằng» của vũ trụ.
Vì thế, Dịch có ba nghĩa:
- Bất biến.
- Biến thiên.
- Dễ.(Dễ, vì nếu ta biết mọi khía- cạnh biến- hằng của hoàn- cảnh, sự- vật, thì sự đời cũng như công chuyện đối phó sẽ trở nên dễ dàng).
Dịch là một bộ sách triết học, dùng:
- Tượng (ký hiệu - Symboles)
- Từ (Lời lẽ - Paroles)
- Số (Nombres)
Để mô tả căn do cũng như sự sinh thành, sự biến hóa của vũ trụ, quần sinh, và mọi giai đoạn danh hư, tiêu trưởng của vạn hữu cốt là để theo dõi được mọi sự biến tiên va cũng là để đoán định cho ra điều
hay, điều dở (cát, hung), do đó sinh ra (Chiêm = đoán)
Dịch coi:
- Thái cực là nguồn gốc sinh ra vạn tượng, vạn hữu, vũ trụ, quần sinh.
- Âm Dương là hai động lực vừa tương thừa (complémentaires) vừa tương khắc (opposées ou
contraires) tác động lẫn trên nhau, mà sinh ra mọi biến hóa.
- Tứ tượng, ngũ hành là những trạng thái biến hóa chính của một nguyên khí. Nguyên thể khi trải qua
các giai đọan, từ khinh thanh đến trọng trọc và ngược lại (du subtil au grossier et vice- versa), theo những
chu kỳ cố định, diễn biến theo luật định: Sinh (naissance), trưởng (croissance), liễm (retrait), tàng (latence,
mort).
- Bát quái tượng trưng cho vạn tượng, vạn hữu (êtres, phénomènes)
- Sáu mươi tư quẻ tượng trưng cho mọi hoàn cảnh (situations) mà vạn tượng, vạn hữu trrong khi gặp gỡ, giao dịch với nhau đã gây nên.
Cho nên khi khảo sát sáu mươi tư quẻ, tượng trưng cho muôn vạn hoàn cảnh trên đời, ta thấy Dịch
kinh chủ trương như sau:
https://thuviensach.vn
12/21/2015 nhantu.net/DichHoc/KinhDichDongY/KinhDichDongY.htm
http://nhantu.net/DichHoc/KinhDichDongY/KinhDichDongY.htm 2/21
1/ Muốn hiểu rõ hoàn cảnh, cần phải biết rõ những yếu tố đã tạo nên hoàn cảnh ấy, cũng như những đặc tính củatừng yếu tố ấy (Thoán). Vì thế Thoán tuyện bao giờ cũng phân tách quẻ kép (hoàn cảnh) ra
thành những quẻ đơn (yếu tố cấu tạo nên hoàn cảnh), và tìm hiểu những đặc tính riêng biệt của chúng
(quái đức, quái tượng, quái thể), ngõ hầu nắm vững được toàn thể hoàn cảnh và đoán định đại khái được
những sự dở hay do nó xuất sinh.
2/ Đứng trước mỗi hoàn cảnh, phải xét xem nó có dạy ta được bài học luận lý gì (Tượng).
3/ Tìm xem hoàn cảnh sẽ diễn biến ra sao (sáu hào), tùy theo:
- Thời gian (trước, giữa, sau).
- Không gian (dưới, giữa, trên).
- Nhân sự, sang hèn, hay dở, cô đơn, hay có người phũ ủng (ứng).
- Cách cư xử, đối đãi, tiến, thoái của từng nhân vật.
4/ Như vậy sẽ đóan ra được sự thành, bại của mỗi hoàn cảnh để chiêu lành (xu cát), lánh dữ (tị hung).
Những nhận định của Dịch, gần đây, khi đem phối kiểm với các khái niệm tối tân nhất của khoa học và
triết học hiện đại, đã trở nên hết sức chính xác và cao siêu.
Leibniz (1646- 1716), người phát minh ra khoa toán pháp nhị nguyên (arithmétique binaire ou
dyadique) đã khảo cứu kinh Dịch vào khoảng những năm từ 1698 đến 1701, đã phải bỡ ngỡ vì thấy các quẻ Dịch tiên thiên từ Khôn đến Kiền có thể mã lại đúng y thứ tự 64 số của Toán pháp nhị nguyên, từ 0
đến 63. Thí dụ:[2]
32 16 8 4 2 1
Khôn = 0 = 0 0 0 0 0 0
Bác = 1 = 0 0 0 0 0 1
Tỉ = 2 = 0 0 0 0 1 0
Quan = 3 = 0 0 0 0 1 1
Dự = 4 = 0 0 0 1 0 0
Tấn = 5 = 0 0 0 1 0 1
Tụy = 6 = 0 0 0 1 1 0
Bĩ = 7 = 0 0 0 1 1 1
Cấu = 31 = 0 1 1 1 1 …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.