
Lời giới thiệu
Năm va qua, Chuyện cũ Hà Nội đã đưͻc Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nͱi tặng giải thưởng Thăng Long 1997-1998. Thật
xng đáng, vì trong khoảng chục năm trở lại đây, Chuyện cũ Hà Nội là mͱt tập ký sΉ thật đặc sắc về đề tài Hà Nͱi.
Có thể coi đó là mͱt th Vũ Trung tùy bút thời hiện đại, vì vͳi nh·ng mẩu chuyện không dài, Tô Hoài vͳi tư cách mͱt chng nhân đã ghi lại “muôn mặt đời thường” của cái Hà Nͱi thời thuͱc Tây. Tuy mͳi qua sáu, bảy chục năm mà dường như không mấy ai nhͳ n·a, thậm chí đã trở thành chuyện đời xưa.
Chuyện cũ Hà Nội ở lần xuất bản đầu tiên vào năm 1986 mͳi chỉ có bốn chục truyện. Tͳi lần tái bản này sách gồm 114 chuyện. Không gian đưͻc mở rͱng, thời gian đưͻc dãn dài, chuyện đời, chuyện người phong phú lên nhiều. Điều đáng nói trưͳc hết là ở lần in đầu, có lẽ nặng lòng vͳi vùng quê ven đô sâu nặng ân tình nên các câu chuyện cũng nghiêng về nh·ng miền đất ngoại ô. Nay thì cả mͱt nͱi thị Hà Nͱi dàn trải trong tập sách: Băm sáu phố phường, Cái
tàu điện, Phố Mới, Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, Phố Nghề, Hội Tây, Bà Ba (Bé) Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài, Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm v.v. Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng thấy sΉ hiện diện đa dạng của cái nͱi thành đa đoan lắm chuyện. Phố Hàng Đào vͳi nh·ng “mͻ Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ đầy tay, phố Hàng Ngang vͳi nh·ng chú tây đen thờ lͻn, chủ hiệu vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố Mͳi có nhà cầm đồ Vạn Bảo “lͱt da” dân nghèo, có cả chͻ đưa người, mͱt th chͻ môi
giͳi thuê mưͳn – cả mua bán – nh·ng vú em, thằng nhỏ, con sen… nh·ng thân phận nghèo hèn đem thân làm nô bͱc cho thiên hạ.
Rồi cái tầu điện leng keng, nh·ng ngày Hͱi Tây bên bờ Hồ Gươm, nh·ng tà áo dài t thuở thay vai và nhuͱm nâu Đồng Lầm đến áo Lơ Muya sặc s mốt thời trang mͱt thời…
Cái hay ở Tô Hoài là nh·ng cái lăng nhăng sự đời ấy (ch· của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã tng đề cập. Nhưng lần này Tô Hoài lại nhìn ra nh·ng nét hoạt kê mͳi; hay cũng đã nhiều người viết về quà Hà Nͱi nhưng các bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô Hoài có nh·ng thông tin hay, mͳi mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có nhiều ý t mͳi.
Như vậy đó, vͳi vài nét ký họa, Tô Hoài đã vẽ đưͻc cái thần thái của mͱt thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành
n΅a Tây n΅a ta, n΅a cũ n΅a mͳi, n΅a sang n΅a quê…
Có mͱt Hà Nͱi nhố nhăng như thế thì cũng có mͱt Hà Nͱi lầm than.
Cảnh lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven nͱi. Thͻ c΅i, thͻ giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây đoan sục bắt rưͻu lậu và nh·ng người dân lành đói khổ phải nhận đi “tù rưͻu thay” để vͻ con ở nhà có người chu cấp. SΉ bần cùng ấy hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm vͻi đi của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao nếu không có mͱt người quen ý t trả công dạy học lũ con ông ta bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay dì Tư không, hay còn thế nào n·a”.
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.